Sự Kiêu Ngạo Trong Con Dân Chúa

511 views

YouTube: https://youtu.be/J1lQyD5zBIs

Bài Giảng Trong Năm 2025
202517 Sự Kiêu Ngạo Trong Con Dân Chúa

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:

Kho chứa MP3 các bài giảng:

Kho chứa pdf các bài giảng:

Có một thực trạng đáng buồn luôn xảy ra trong con dân Chúa. Đó là sự kiêu ngạo.

Sự kiêu ngạo là thái độ tự nâng mình lên cao hơn vị trí thật của mình trước mặt Thiên Chúa và loài người. Đó là việc đặt cái tôi, ý riêng, sự hiểu biết riêng, hoặc thành quả của mình lên trên ý muốn, sự dạy dỗ, sự dẫn dắt, và sự vinh quang của Thiên Chúa.

Sự kiêu ngạo đã trở thành bản tính lưu truyền của loài người, sau khi A-đam và Ê-va phạm tội. Từ chỗ không tin vào lời phán của Thiên Chúa, trong A-đam và Ê-va đã sinh ra sự tham lam và kiêu ngạo. Họ đã muốn chiếm lấy những gì thuộc về Thiên Chúa và muốn ngang bằng Thiên Chúa. Họ đã muốn tự mình định tiêu chuẩn tốt, xấu thay vì dựa vào lời phán của Thiên Chúa.

Đặc tính của sự kiêu ngạo là:

  • Tự tôn mình lên: Tin rằng mình giỏi hơn, biết nhiều hơn, thuộc linh hơn người khác. Tự cho mình là người quan trọng, đáng được tôn trọng hơn người khác. Không chịu sự sửa dạy, không mở lòng tiếp nhận sự góp ý hay lời quở trách. Đặt bản thân, ý muốn, thành tích, và sự hiểu biết của mình vào vị trí trung tâm, thay vì Thiên Chúa.

  • Phủ nhận sự lệ thuộc vào Thiên Chúa: Người kiêu ngạo sống và hành động như thể họ không cần đến ân điển, sự tha thứ, và sự dẫn dắt của Thiên Chúa. Họ tin rằng sự thành công của họ là do năng lực và sự khôn sáng của riêng họ. Lời Chúa dạy: “Kẻ ác, trong sự kiêu ngạo của mặt nó, sẽ không cầu hỏi. Thiên Chúa không có trong mọi ý tưởng của nó” (Thi Thiên 10:4).

  • So sánh mình với người khác: Họ tìm thấy giá trị của bản thân không phải trong Đấng Christ, mà trong sự tự cho mình là vượt trội, là tốt hơn người khác. Họ nghĩ mình vượt trội hơn người khác, kể cả trong ân tứ, chức vụ, hoặc sự hiểu biết Thánh Kinh. Điển hình là lời cầu nguyện của một người Pha-ri-si trong một ngụ ngôn do Đức Chúa Jesus kể, được ghi lại trong Lu-ca 18:11-12.

Biểu hiện cụ thể của sự kiêu ngạo là:

  • Tự phụ về địa vị thuộc linh hoặc trí thức: Sự hiểu biết có thể làm cho người ta kiêu ngạo (I Cô-rinh-tô 8:1). Nhiều người học biết cách làm được điều này điều kia thì lại cho rằng mình giỏi mà không nhớ rằng mình đã học từ người khác hay nhờ vào trí tuệ nhân tạo.

  • Tìm kiếm sự tôn trọng và sự vinh quang cho bản thân, thay vì quy mọi sự vinh quang lên Thiên Chúa theo Lời Chúa dạy: “Vậy, cho dù các anh chị em ăn hay uống, hay làm sự gì khác, hãy làm mọi sự vì sự vinh quang của Thiên Chúa” (I Cô-rinh-tô 10:31). Thay vì cảm tạ Chúa và tôn vinh Chúa vì đã làm được điều này điều kia thì lại trông chờ được người khác khen ngợi mình, thán phục mình.

  • Khó tiếp thu sự sửa dạy, góp ý, và thường có thái độ phán xét, xem thường người khác: Tự cho mình là đủ, không cần sự giúp đỡ hay cầu nguyện của người khác. Lời Chúa dạy: “Sự kiêu ngạo chỉ đem lại sự tranh cãi còn những ai nghe sự khuyên dạy thì khôn sáng” (Châm Ngôn 13:10).

Nguyên nhân chung dẫn đến sự kiêu ngạo trong con dân Chúa là:

  • Sự cám dỗ từ ma quỷ: Kiêu ngạo là vũ khí yêu thích của Sa-tan. Sự kiêu ngạo đã làm Lu-xi-phe sa ngã thành Sa-tan (Ê-sai 14:12-15). Sa-tan dùng sự kiêu ngạo để liên tục cám dỗ mọi con dân Chúa.

  • Bản chất xác thịt chưa được cai trị: Sự cứu rỗi giải thoát chúng ta khỏi án phạt của tội lỗi, nhưng tiến trình nên thánh (sự thay đổi bên trong) là trọn cả đời sống của chúng ta trên đất này, trong thân thể xác thịt hiện tại. Kiêu ngạo là một trong những tội lỗi khó nhận ra và từ bỏ nhất. Con dân Chúa phải kỷ luật thân thể xác thịt của mình, bắt nó phải phục theo Lời Chúa: “Nhưng tôi kỷ luật thân thể mình, bắt nó phải phục, kẻo sau khi tôi đã giảng dạy những người khác mà chính mình phải bị bỏ” (I Cô-rinh-tô 9:27). Đức Chúa Trời đã ban cho con dân Chúa năng lực để họ tự kỷ luật chính mình: “Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta thần trí của sự sợ hãi, nhưng của năng lực, của tình yêu, và của sự tự kỷ luật” (II Ti-mô-thê 1:7).

  • Sự sai lầm trong nhận thức: Có người vô tình nghĩ rằng “sự cứu rỗi” là một thành tích của bản thân (tôi đã tin đúng, tôi đã chọn đúng, tôi đang sống theo Lời Chúa), từ đó dẫn đến sự kiêu ngạo thuộc linh.

Nguyên nhân chung dẫn đến sự kiêu ngạo trong những người chăn và những trưởng lão trong Hội Thánh là:

  • Vị trí có ảnh hưởng: Họ nhận được sự kính trọng, tin tưởng, và vâng phục từ nhiều người. Sự tôn trọng này, nếu không cẩn thận, có thể biến thành sự tôn thờ bản ngã. Họ cần luôn thể hiện lòng biết ơn và tôn trọng mọi người.

  • Áp lực phải “hoàn hảo”: Họ thường bị đặt vào một hình mẫu lý tưởng, dẫn đến việc che giấu những điểm yếu và tạo ra một hình ảnh “tài giỏi, không tì vết”, đây là một dạng của kiêu ngạo. Họ cần nhanh chóng nhận lỗi khi có lỗi và tiếp thu những ý kiến đúng.

  • Quyền lực và sự kiểm soát: Việc quản lý Hội Thánh, ra các quyết định quan trọng có thể dẫn đến việc tin rằng “ý muốn của tôi là ý muốn của Chúa”. Họ cần phải tham khảo ý kiến từ nhiều người, đối chiếu với Lời Chúa, và đưa ra quyết định trong sự cầu nguyện.

  • Sở hữu trí thức về Lời Chúa sâu rộng: Trí thức có thể trở thành công cụ để khoe khoang, lên mặt thay vì yêu thương, giúp ích người khác. Đây chính là lời cảnh báo trong I Cô-rinh-tô 8:1. Họ cần phải có tấm lòng luôn tha thiết giúp người khác thêm lên trong sự hiểu biết Lời Chúa.

Những người chăn và những trưởng lão cũng là những con người đang trong tiến trình nên thánh. Họ còn đối diện với những cám dỗ đặc biệt hơn. Sự kiêu ngạo của họ càng nguy hiểm hơn vì nó có thể ảnh hưởng và gây vấp phạm cho cả một Hội Thánh địa phương.

Sự kiêu ngạo trong con dân Chúa thường rất tinh vi, được bao phủ bởi vẻ ngoài “thuộc linh”. Dưới đây là một số hình thức phổ biến:

1. Kiêu ngạo về sự hiểu biết Lời Chúa: Tự cho mình là hiểu biết Thánh Kinh hơn người khác, thích tranh luận về giáo lý vặt, xem thường những con dân Chúa “non trẻ” hơn. Tự cho rằng mình đúng hoàn toàn trong mọi sự giải nghĩa. Tìm kiếm sự công chính từ sự hiểu biết của mình chứ không phải từ Đấng Christ. Xem trọng “hiểu biết đúng đắn” hơn tình yêu thương. Tranh luận giáo lý để “thắng” thay vì để học hỏi. Xem thường những người “chưa hiểu sâu” như mình. Gây chia rẽ, tạo ra bầu không khí trịch thượng và lạnh lùng trong Hội Thánh.

2. Kiêu ngạo về nếp sống Đạo: Tự hào về lối sống “thánh khiết” của mình (không hút thuốc, không uống rượu, giữ ngày Sa-bát, sốt sắng trong sự dâng hiến và tham gia các linh vụ…). Hay khoe khả năng, kinh nghiệm, thành tích. Ít lắng nghe người khác. Từ đó, xét đoán những người không làm được như mình. Thường xuyên dạy dỗ hoặc sửa người khác mà không xem xét chính mình. Đây chính là thái độ của người Pha-ri-si trong ngụ ngôn Người Pha-ri-si và Người Thu Thuế (Lu-ca 18:9-14). Tạo ra một nền đạo đức giả hình và đánh mất tinh thần thương xót.

3. Kiêu ngạo về ân tứ và chức vụ: Tự hào về ân tứ Chúa ban (giảng dạy, ca hát, lãnh đạo, chuyên môn kỹ thuật…) như thể đó là tài năng cá nhân. Dùng ân tứ để tạo ảnh hưởng cá nhân thay vì phục vụ thân thể của Đấng Christ. So bì, ganh tị với chức vụ của người khác, hoặc khinh thường những chức vụ được xem là “nhỏ bé” hơn. Tự hào về số lượng người tin Chúa qua mình. Xem công việc của Đức Chúa Trời như “thành công” của mình. Xây dựng “vương quốc riêng” thay vì Vương Quốc của Đức Chúa Trời. Muốn được người khác nhìn thấy công việc mình làm. Phật lòng khi không được khen ngợi. So sánh mình với người khác và cho rằng mình phục vụ nhiều hơn, tốt hơn. Phá vỡ sự hiệp một trong Hội Thánh.

4. Kiêu ngạo về trải nghiệm thuộc linh: Tự cho mình là có mối quan hệ “sâu nhiệm” hơn với Chúa, được Ngài “phán” riêng nhiều hơn, được ban cho chiêm bao, khải tượng nhiều hơn, hoặc thuộc về một nhóm “tinh hoa” nào đó. Dùng trải nghiệm cá nhân làm thước đo cho đức tin của người khác. Tạo ra sự chia rẽ giữa những người “có” và “không có” trải nghiệm, và thậm chí có thể dẫn đến sự mê tín. Không sẵn sàng nhận lỗi. Không chịu học hỏi từ người khác, dễ xem thường người mà họ nghĩ là kém hơn họ.

5. Kiêu ngạo về sự tự lập: Dù tin vào ân điển, nhưng trong thâm tâm vẫn cảm thấy Chúa cứu mình vì mình “có gì đó đặc biệt”, hoặc tin rằng sự trưởng thành thuộc linh của mình là do nỗ lực cá nhân. Khó cầu xin sự giúp đỡ và thường xấu hổ khi thừa nhận điểm yếu. Sống một đời sống theo Chúa mệt mỏi, cô lập, và thiếu đi sự tự do thật sự trong ân điển.

6. Kiêu ngạo về tài chính: Nghĩ rằng sự giàu có là “phước lành đặc biệt” từ Đức Chúa Trời ban cho họ vì họ xứng đáng. Xem thường những người nghèo là “thiếu đức tin”. Dùng tiền bạc để tạo ảnh hưởng trong Hội Thánh.

Điều đáng sợ nhất là có những người không nhận biết mình kiêu ngạo. Họ tự hào về sự khiêm nhường của chính mình. Họ tự nghĩ rằng mình không kiêu ngạo. Họ muốn người khác thấy rằng mình là người hạ mình.

Tuy nhiên, ngày nào một người còn nhìn thấy mình có giá trị là bởi bất cứ một điều gì khác hơn là bởi sự thương xót của Đức Chúa Trời, mình được Đức Chúa Jesus Christ cứu chuộc, và được Đức Thánh Linh thánh hóa thì người ấy đang sống trong sự kiêu ngạo. Tất cả những gì tốt đẹp một con dân Chúa làm ra là bởi ý muốn của Đức Chúa Trời, bởi ân điển của Đức Chúa Jesus Christ, và bởi sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh. Vì thế, cho dù ngay cả việc ăn và uống để nuôi sống thân thể xác thịt mình cũng phải được làm vì sự vinh quang của Thiên Chúa. Bởi thân thể của con dân Chúa là Đền Thờ của Thiên Chúa.

Sự kiêu ngạo được kể đầu tiên trong bảy thứ mà Đấng Tự Hữu Hằng Hữu gớm ghiếc:

Châm Ngôn 6:16-19

16 Có sáu điều Đấng Tự Hữu Hằng Hữu ghét, và bảy điều Ngài lấy làm gớm ghiếc:

17 Con mắt kiêu ngạo, lưỡi dối trá, tay làm đổ máu vô tội,

18 lòng định những mưu ác, chân vội vàng chạy đến sự dữ,

19 kẻ làm chứng gian và nói sự dối trá, cùng kẻ gieo sự tranh cạnh trong vòng anh em.

Thánh Kinh ghi lại nhiều gương kiêu ngạo. Chúng ta hãy cùng xem qua một gương điển hình là sự kiêu ngạo của A-rôn và Mi-ri-am, anh và chị của Môi-se. Họ đã cùng phạm tội kiêu ngạo, và sự kiện này được ghi lại rõ ràng trong Dân Số Ký đoạn 12.

Sự kiêu ngạo của họ không phải là một hành động công khai chống lại Đức Chúa Trời, mà là một sự so sánh ngấm ngầm, xuất phát từ lòng tự tôn và sự ganh tị với địa vị độc nhất của em trai mình. Lời Chúa chép:

Dân Số Ký 12:1-3

1 Mi-ri-am và A-rôn nói nghịch Môi-se về việc người nữ xứ Cút mà người đã lấy; vì người có lấy một người nữ xứ Cút làm vợ.

{Người xứ Cút tức là dân Ê-thi-ô-bi.}

2 Hai người nói rằng: Đấng Tự Hữu Hằng Hữu chỉ dùng một mình Môi-se mà thôi sao? Ngài không dùng chúng ta mà phán nữa sao? Đấng Tự Hữu Hằng Hữu nghe điều đó.

3 Tuy nhiên, Môi-se là người rất khiêm hòa hơn mọi người trên thế gian.

Trước hết, chúng ta cần chú ý đến câu 3. Vì “Môi-se là người rất khiêm hòa hơn mọi người trên thế gian” nên không thể nào ông là cớ vấp phạm cho A-rôn và Mi-ri-am. Chữ “khiêm hòa” trong tiếng Hán Việt (謙和) được cấu thành bởi hai chữ, mỗi chữ mang một sắc thái ý nghĩa riêng biệt nhưng bổ sung cho nhau một cách hoàn hảo:

  • Chữ “khiêm” () có nghĩa là khiêm nhường, khiêm tốn. Chữ này gồm bộ “ngôn” (), nghĩa là lời nói, và chữ “kiêm” (), nghĩa là gồm cả, kiêm cả. Người mà lời nói thể hiện sự “gồm cả” người khác, không chỉ nghĩ đến mình là người có thái độ tự hạ mình, không tự tôn, không khoe khoang. Người “khiêm” là người biết mình ở đâu, không tự cao tự đại.

  • Chữ “hòa” () có nghĩa là hòa hợp, ôn hòa. Chữ này gồm bộ “hòa” (), nghĩa là cây lúa, và bộ “khẩu” (), nghĩa là miệng. Hình ảnh “miệng nói ra những lời như lúa thơm”, tạo nên sự hài hòa, yên ổn. Nó diễn tả một tính cách ôn hòa, hòa nhã, dễ chịu, không thô lỗ hay nóng nảy. Người “hòa” là người tạo ra bầu không khí an hòa, dễ gần.

Khi ghép lại, “khiêm hòa” mô tả một phẩm chất toàn vẹn bao gồm cả thái độ bên trong lẫn cách cư xử bên ngoài:

  • “Khiêm” () là phần gốc rễ bên trong: Một tấm lòng tự hạ, đánh giá đúng mình, không kiêu ngạo.

  • “Hòa” () là phần biểu hiện ra ngoài: Một thái độ ôn hòa, lời nói nhã nhặn, cách cư xử hòa nhã phát xuất từ tấm lòng khiêm nhường bên trong.

Một người “khiêm hòa” là người có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự khiêm nhường trong tâm và sự ôn hòa trong cách đối nhân xử thế. Họ không chỉ “nhún nhường” một cách thụ động, mà còn chủ động tạo ra sự hòa hợp, yên ổn cho những người chung quanh. Dân Số Ký 12:3 gọi Môi-se là người “rất khiêm hòa” không chỉ có nghĩa ông rất khiêm nhường mà còn hàm ý rằng sự khiêm nhường thẳm sâu trong lòng ông đã tỏa ra thành một đời sống, một tính cách ôn hòa, điềm tĩnh và kiên nhẫn, khi đối diện với những lời chỉ trích từ chính anh chị mình. Đây chính là phẩm chất mà Đấng Tự Hữu Hằng Hữu vô cùng trân quý và là tấm lòng mà Ngài ban ơn dư dật.

Các dịch giả Thánh Kinh Việt Ngữ đã chọn dùng chữ “khiêm hòa” để dịch từ ngữ “עָנָו” (ʿānāv – H6035) /aw-nawv’ – a-na-v/ trong tiếng Hê-bơ-rơ một cách tuyệt vời. Trong tiếng Hê-bơ-rơ tính từ “עָנָו” ra từ động từ “עָנָה” (ʿānâ – H6031) /aw-naw’ – a-na/ là một động từ bao gồm hai nghĩa:

  • Nghĩa 1: “cúi xuống”, “hạ mình”, “bị áp bức, làm cho khó nghèo”. Như dân I-sơ-ra-ên đã bị dân Ê-díp-tô áp bức, phải hạ mình và chịu cảnh khó nghèo trước dân Ê-díp-tô.

  • Nghĩa 2: “trả lời”, “đáp lại”.

Phẩm chất khiêm hòa (עָנָו) không phải là sự yếu đuối thụ động hay tính cách tự ti. Nó là sức mạnh nội tâm được kiểm soát. Một người khiêm hòa (עָנָו) là người:

  • Tự nguyện “cúi xuống” (nghĩa 1) trước Thiên Chúa và với người khác, không kiêu ngạo hay tự tôn.

  • Và vì đã “cúi xuống” trước Thiên Chúa, họ ở trong tư thế sẵn sàng “đáp lại” (nghĩa 2) một cách trung tín và vâng phục tiếng phán của Ngài.

Khiêm hòa (עָנָו) là sự tự hạ mình có chủ đích cùng với sự sẵn sàng để đáp lời. Đó là sức mạnh để phục vụ, không phải để thống trị.

A-rôn và Mi-ri-am kiêu ngạo vì họ đã tự tôn mình lên, đòi hỏi địa vị ngang hàng với Môi-se, qua lời nói của họ trong câu 2.

Họ dùng việc Môi-se lấy một người vợ ngoại bang (Ê-thi-ô-bi) làm cái cớ để công kích. Đây thường là chiêu bài của sự kiêu ngạo: dùng một lý do có vẻ “chính đáng” hoặc “đạo đức” để che giấu động cơ thật sự là sự ganh tị và muốn hạ bệ người khác. Nhưng thực ra họ đã không còn hài lòng với chức vụ và ân tứ Chúa đã ban cho mình (A-rôn là thầy tế lễ thượng phẩm, Mi-ri-am là nữ tiên tri – Xuất Ê-díp-tô Ký 15:20). Họ muốn có được địa vị ngang hàng với Môi-se, là người được Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đối diện trực tiếp (Phục Truyền Luật Lệ Ký 34:10).

Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã bất ngờ phán bảo cả ba: Môi-se, A-rôn, và Mi-ri-am ra chỗ Hội Mạc. Ngài đã ngự xuống trong trụ mây, đứng tại cửa Hội Mạc, rồi gọi A-rôn và Mi-ri-am đến. Ngài xác nhận địa vị đặc biệt của Môi-se và quở trách họ.

Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phán rõ ràng rằng Môi-se là người “thật trung tín trong cả nhà Ta”, và Ngài phán với Môi-se “miệng đối miệng, một cách rõ ràng” chứ không dùng lời lẽ khó hiểu (như trong chiêm bao, trong sự hiện thấy). Điều này khẳng định sự khác biệt căn bản trong mối quan hệ của Môi-se với Đấng Tự Hữu Hằng Hữu so với bất cứ tiên tri nào khác.

Câu hỏi then chốt của Ngài: “Vậy, các ngươi không sợ mà nói nghịch kẻ tôi tớ Ta, là Môi-se sao?” (câu 8) cho thấy hành động của A-rôn và Mi-ri-am không chỉ là nói xấu Môi-se, mà còn xúc phạm trực tiếp đến chính Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Đấng đã lập và tôn trọng Môi-se.

Câu 9 cho biết: “cơn thịnh nộ của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu nổi phừng phừng cùng hai người”. Điều này cho thấy Ngài xem sự phạm tội của A-rôn và Mi-ri-am rất nghiêm trọng.

Câu 10 cho biết: Đấng Tự Hữu Hằng Hữu vừa rời khỏi Hội Mạc thì Mi-ri-am đã bị phong hủi trắng như tuyết. Có lẽ vì bà là người chủ mưu (câu 1 ghi “Mi-ri-am và A-rôn”, đặt tên bà lên trước).

A-rôn ngay lập tức ăn năn và cầu xin với Môi-se sự tha thứ cho Mi-ri-am và cho chính ông. Môi-se cất tiếng, kêu van cùng Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Ngài ra lệnh cho Mi-ri-am phải bị đuổi ra khỏi trại quân bảy ngày. Bà đã chịu một sự sỉ nhục công khai và đó cũng là một bài học chung cho toàn dân I-sơ-ra-ên.

Chúng ta thấy rõ:

  • Sự kiêu ngạo thường núp bóng dưới vẻ ngoài “quan tâm thuộc linh” hoặc “sửa sai”. Người kiêu ngạo dùng một vấn đề đạo đức hay nguyên tắc nào đó để che đậy động cơ ganh tị và thèm muốn địa vị của người khác.

  • Đức Chúa Trời cực kỳ nghiêm khắc với tội nói hành và làm tổn thương các lãnh đạo Ngài đã lập. Ngài là Đấng bênh vực cho những tôi tớ trung tín của Ngài.

  • Sự so sánh mình với người khác là cánh cửa dẫn đến kiêu ngạo. Thay vì biết ơn về chức vụ Chúa ban, A-rôn và Mi-ri-am lại nhìn vào chức vụ của Môi-se, và cảm thấy mình bị “thiệt thòi”.

Câu chuyện về A-rôn và Mi-ri-am là một lời cảnh báo mạnh mẽ cho mọi con dân Chúa, đặc biệt là những người lãnh đạo trong Hội Thánh, về sự nguy hiểm của lòng kiêu ngạo và sự ganh tị trong vòng anh chị em.

Còn nhiều gương kiêu ngạo khác trong Cựu Ước như:

  • Vua Sau-lơ (I Sa-mu-ên 13:8-14; 15:9-23): Tự ý dâng tế lễ, không đợi Sa-mu-ên theo đúng thời hạn. Kiêu ngạo trong sự vâng lời có chọn lọc. Ông đặt áp lực và sự đánh giá của mình lên trên mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Tiếp theo, ông không diệt hết dân A-ma-léc và chiến lợi phẩm, rồi biện minh là để “dâng cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu”. Kiêu ngạo trong sự bất tuân và tự biện. Ông nghĩ rằng có thể thương lượng với Thiên Chúa và cải thiện mệnh lệnh của Thiên Chúa. Hậu quả: Bị Đấng Tự Hữu Hằng Hữu từ bỏ và mất ngôi vị vua, sau cùng là mất mạng sống.

  • Vua Đa-vít (II Sa-mu-ên 24:1-10; I Sử Ký 21:1-8): Ra lệnh kiểm tra dân số, vì muốn biết sức mạnh và thành tích quân sự của chính mình. Kiêu ngạo trong sự tự trông cậy và tìm kiếm vinh quang cho bản thân. Ông tin cậy vào quân đội của mình hơn là vào Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Hậu quả: Một trận dịch khiến 70.000 người chết.

  • Vua Sa-lô-môn (I Các Vua 11:1-8; Phục Truyền Luật Lệ Ký 17:17): Cưới nhiều vợ ngoại bang, chiều theo họ mà thờ các thần khác. Kiêu ngạo trong sự cho mình là ngoại lệ. Dù được Chúa ban sự khôn sáng, ông nghĩ mình có thể vi phạm luật pháp Chúa mà không bị ảnh hưởng. Hậu quả: Vương quốc bị chia cắt.

  • Vua Ô-xia (II Sử Ký 26:16-21): Sau khi được quyền thế, tự ý vào Đền Thờ của Thiên Chúa để dâng hương, một công việc chỉ dành cho các thầy tế lễ. Kiêu ngạo trong chức vụ, xâm phạm sự thánh khiết. Ông cho rằng địa vị vua của mình cho phép vượt qua mọi ranh giới thánh. Hậu quả: Bị phong hủi đến cuối đời.

  • Vua Ê-xê-chia (II Sử Ký 32:24-31; Ê-sai 39:1-8): Khoe mọi của cải, binh khí, kho tàng cho sứ giả Ba-bi-lôn. Lòng kiêu ngạo nổi lên sau khi được Chúa chữa lành. Kiêu ngạo trong sự khoe khoang và không biết ơn. Ông tìm kiếm sự vinh quang cho bản thân và vương quốc của mình thay vì quy sự vinh quang lên Thiên Chúa. Hậu quả: Tiên Tri Ê-sai báo rằng toàn bộ của cải và con cháu sẽ bị bắt sang Ba-bi-lôn.

Xuyên suốt lịch sử các vua I-sơ-ra-ên và Giu-đa, một mô hình về sự kiêu ngạo cứ thường nảy sinh sau những thành công và phước hạnh (quyền lực, chiến thắng, sự giàu có, sự chữa lành).

  • Bản chất của kiêu ngạo là sự tự tôn, thay thế vị trí của Đức Chúa Trời bằng ý muốn, kế hoạch, và sự vinh quang của bản thân.

  • Hậu quả của kiêu ngạo luôn là sự sụp đổ, bao gồm sự mất ngôi vị, sự rủa sả, hay sự hủy diệt cho cả vương quốc.

Trong Tân Ước cũng có ghi lại nhiều gương về sự kiêu ngạo:

  • Những người Pha-ri-si và những thầy thông giáo (Ma-thi-ơ 23:1-12; Lu-ca 18:9-14): Yêu địa vị, danh hiệu. Làm việc lành để được người ta khen. Ra luật lệ nặng cho người khác còn mình thì không động ngón tay. Cầu nguyện khoe khoang. Kiêu ngạo thuộc linh và đạo đức giả. Tìm kiếm sự công chính bởi việc làm và dùng nó để xét đoán, khinh dể người khác. Hậu quả: Bị Đức Chúa Jesus quở trách nặng nề, sự cầu nguyện của họ không được nhậm.

  • Vua Hê-rốt Ạc-ríp-ba Đệ Nhất (Công Vụ Các Sứ Đồ 12:21-23): Mặc áo chầu của vua, diễn thuyết cho dân chúng. Khi dân chúng reo lên: “Ấy là tiếng của thần linh, chẳng phải của loài người”, ông đã nhận lấy sự tôn vinh đó. Kiêu ngạo vì nhận sự tôn vinh thuộc về Đức Chúa Trời. Ông không tôn vinh Thiên Chúa khi được người ta tán dương. Hậu quả: Bị thiên sứ của Chúa đánh, bị trùng ăn mà chết.

  • Sứ Đồ Phi-e-rơ (Ma-thi-ơ 26:31-35): Tuyên bố quả quyết: “Dù hết thảy sẽ vấp phạm vì cớ Ngài, tôi sẽ không bao giờ vấp phạm.” Kiêu ngạo về sức riêng và lòng trung thành. Ông tin vào sự dũng cảm và cam kết của bản thân hơn là lời cảnh báo của Chúa. Hậu quả: Chối Chúa ba lần, ăn năn thảm thiết.

  • Sứ Đồ Giăng và Sứ Đồ Gia-cơ cùng với mẹ của họ (Ma-thi-ơ 20:20-28; Mác 10:35-45): Xin được ngồi bên phải và bên trái của Đức Chúa Jesus trong vương quốc của Ngài. Họ tìm kiếm địa vị và quyền lực. Họ muốn hai vị trí cao nhất, quan trọng nhất trong Vương Quốc Trời. Hành động này ngầm cho thấy họ tự cho mình xứng đáng hơn 10 sứ đồ còn lại. Họ là một phần của nhóm “thân cận” với Chúa (cùng với Phi-e-rơ), và họ muốn khẳng định vị thế tối thượng. Họ đã hiểu sai về Vương Quốc của Đức Chúa Trời. Họ nghĩ về một vương quốc chính trị với các vị trí quyền lực trần thế, thay vì một vương quốc của sự phục vụ và hy sinh. Họ cũng tự tin quá mức về sự chịu đựng của bản thân, khi thưa rằng họ có thể uống được chén mà Chúa sẽ uống và chịu được báp-tem mà Ngài sẽ chịu. Đức Chúa Jesus đã sửa dạy họ.

  • Một số con dân Chúa trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô (I Cô-rinh-tô 4:6-10, 18-19; 5:1-2): Tự mãn, xét đoán các sứ đồ. Tự cho mình là khôn sáng, giàu có, đã cai trị như vua. Khoe khoang về tội lỗi (trường hợp loạn luân) thay vì đau buồn. Kiêu ngạo về sự hiểu biết và địa vị thuộc linh. Họ dùng sự tự do trong ân điển để biện minh cho tội lỗi và khinh thường người lãnh đạo. Hậu quả: Bị Sứ Đồ Phao-lô quở trách và sửa trị.

  • Hội Thánh tại Lao-đi-xê (Khải Huyền 3:14-19): Tuyên bố: “Ta giàu và thịnh vượng, không có nhu cầu gì cả”, trong khi thực chất thì “khổ sở, thảm thương, khó nghèo, mù lòa, và lõa lồ”. Kiêu ngạo vì sự tự mãn thuộc linh. Họ đánh mất sự lệ thuộc vào Chúa, tin rằng mình đã tự đủ. Hậu quả: Bị Chúa cảnh cáo rằng Ngài sẽ “mửa” ra khỏi miệng của Ngài, nếu không ăn năn.

Lời cảnh cáo trong Châm Ngôn 16:18 cần được mỗi con dân Chúa học thuộc lòng: “Sự kiêu ngạo đi trước sự bại hoại; và tinh thần tự cao đi trước sự sa ngã.”

Sự kiêu ngạo là kẻ thù nguy hiểm nhất của linh hồn vì nó ngăn cản chúng ta thật sự nhìn thấy chính mình và chiêm ngưỡng Chúa. Giải pháp duy nhất là sự hạ mình khiêm nhường. Không phải là sự tự hạ mình giả tạo, mà là sự nhận thức chân thật về con người thật của mình. Hãy luôn nhớ rằng: Mình vốn là một tội nhân đã được tha thứ bởi ơn thương xót của Đức Chúa Trời, qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Hãy luôn nhìn lên thập tự giá, nơi Đấng Christ đã chết vì tội lỗi của chính mình. Sự hướng lòng nhớ đến sự hy sinh của Đấng Christ sẽ đập tan mọi sự kiêu ngạo.

Chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào ân điển: Mọi điều chúng ta có đều là nhận lãnh từ Thiên Chúa:

“Vì sự gì phân biệt ngươi với người khác? Sự gì ngươi có mà không do ngươi nhận lãnh? Nếu ngươi cũng nhận lãnh sao ngươi khoe mình như ngươi chẳng từng nhận lãnh?” (I Cô-rinh-tô 4:7).

Nếu có điều gì đáng khoe thì chúng ta hãy khoe rằng nhờ Chúa mà chúng ta đã đạt được những sự tốt đẹp ấy (I Cô-rinh-tô 1:31; II Cô-rinh-tô 10:17).

Mỗi ngày, chúng ta hãy cầu xin Đức Thánh Linh soi sáng để thấy được những góc khuất kiêu ngạo trong lòng. Cầu xin Đấng Christ ban cho ân điển để chúng ta tiếp tục bước đi trong sự khiêm nhường và yêu thương.

Nguyện Chúa ban cho mỗi chúng ta một tấm lòng khát khao được hạ xuống, để Ngài được tôn cao.

Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta và thêm sức cho chúng ta. Nguyện tất cả chúng ta đều giữ vững đức tin, trung tín với Chúa cho tới ngày Đấng Christ đến. Nguyện tình yêu, ân điển, và sự thông công từ Ba Ngôi Thiên Chúa: Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh, bao phủ quý ông bà, anh chị em. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
22/11/2025

Ghi Chú

Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.

Karaoke Thánh Ca: “Xin Mãi Thuộc về Ngài”

https://karaokethanhca.net/xin-mai-thuoc-ve-ngai/

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.

Các chữ nằm trong hai dấu [ ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.